TIN TỨC
Cho mãi đến tận bây giờ, Bắc cực vẫn còn là vùng đất đầy hấp lực nhưng ít người đặt chân tới. Một phần vì đường xá xa xôi và cái lạnh khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây. Bên cạnh đó, một phần cũng là do chi phí cho hành trình đến nơi này này hãy còn khá cao. Vì vậy, ngoài điều kiện về kinh tế và sức khỏe, thì chỉ những ai có tâm hồn yêu thích sự xê dịch và lòng đam mê ham muốn tìm về những góc khuất của thế giới. Thì mới may ra có đuợc sự thôi thúc bên trong đủ lớn, giúp họ lên đường tìm đến vùng đất của băng tuyết.

Sau hơn đôi lần đặt chân đến đây, tôi cứ nghĩ là những xúc cảm của mình sẽ bị chai sạn. Nhưng không những thế, mà trái lại tôi đã có được phút giây lắng động, và còn có cả những trải nghiệm sâu sắc khó quên.
NORKAPP- VÙNG ĐẤT TẬN CÙNG CỦA LỤC ĐỊA CHÂU ÂU
Sau hơn hai giờ bay từ sân bay Oslo, chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Alta. Từ trên cao chúng tôi đã nhìn thấy những ngọn núi phủ tuyết trắng nhấp nhô chạy dài tít tắp đến tận chân trời.
Bầu trời tháng tư thật trong xanh. Hơi lạnh phảng phất trong gió phả vào mặt, một cảm giác mơn man mà những lữ khách đến từ vùng nhiệt đới như chúng tôi không khỏi lạ lẫm đầy thích thú. Đón chúng tôi là bác tài người Nauy với nét trầm lặng, không vồn vã nhưng có nụ cười thân thiện đủ làm ấm lòng lữ khách.
Xe đưa chúng tôi đến bảo tàng Alta, nơi có bộ sưu tập những bức tranh trên đá được vẽ bởi người tiền sử trong khoảng thời gian trên dưới 6000 năm trước. Đó là những bức vẽ với đường nét nguệch ngoạc thô sơ, nhưng qua đó thể hiện biết bao tâm tư xúc cảm mà người xưa đã cố tình gửi gắm. Những hoạt cảnh về săn bắn, những chú chim hay những con nai sừng tấm Bắc Mỹ với bộ sừng thật to...Đây là một trong những khu khảo cổ quan trọng về người tiền sử, được công nhận là di sản văn hoá thế giới bởi Unesco...
Sau một đêm nghỉ ngơi lấy lại sức, từ thị trấn Honningsvåg chúng tôi bắt đầu hành trình khám phá mũi Nordkapp. Một mũi đá nằm ở độ cao khoảng 300m nhô ra biển Bắc. Nếu nhìn trên bản đồ chúng ta sẽ thấy mũi đất này chưa thực sự là mỏm đất xa nhất ở phía bắc lục địa châu Âu. Mà mũi đất nằm cạnh mới là cao nhất về hướng Bắc, đó là mũi Knivskjello vươn về hướng Bắc xa hơn mũi Norkapp gần 1,5 km. Tuy nhiên, Norkapp vẫn mãi mãi được nhiều người nhắc đến và mong ước được đặt chân đến thăm nhiều nhất.
Ngay từ thời xa xưa, khi điều kiện giao thông còn khó khăn và hạn chế. Để đến được Norkapp phải đi đường bộ hoặc đường tàu rồi men theo vách đá để trèo lên. Thì những nhân vật nổi tiếng cũng đã từng bỏ thời gian và sức lực ra chinh phục. Đó là những người như: Vua Oscar II của Nauy đến thăm vào năm 1873, vua Rama V của Thái Lan năm 1907...
Ngày chúng tôi đến. Con đường mòn dẫn đến mũi đất này vẫn còn phủ đầy tuyết. Theo lời anh Hdv địa phương thì chúng tôi thật may mắn, vì 3 tuần trước con đường này bị đóng băng tuyết khá dày. Mọi hoạt động lưu thông bị ngưng trệ. Và hôm nay là một trong những ngày ít gió nhất. Hầu như đa phần các ngày trong năm, nơi đây luôn hứng gió từ ngoài khơi thổi vào rất lạnh. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đủ cảm thấy cái lạnh thấu xương luồn vào da thịt khi có một luồng gió nhẹ thổi qua. Sau 15 phút tháo găng tay ra để chụp hình, bàn tay tôi lạnh buốt và tê cứng như một khối băng lạnh giá. Chúng tôi bắt đầu làm quen với cái lạnh phương Bắc.

Trên đường trở lại thị trấn Honninsvag chúng tôi dừng lại ở một ngôi làng của những người đánh cá. Ngôi làng từng có quy mô hơn 300 dân, có trường học, bệnh viện ... nhưng giờ đây chỉ còn không đầy 150 dân cho nên ngôi trường duy nhất cũng tạm ngưng hoạt động. Tuy nhiên, vẫn có một bảo tàng tranh nho nhỏ xinh xinh của một nghệ nhân người Đức, cách đây 20 năm bà đã phải lòng một người đàn ông đánh cá Nauy. Bà đã theo ông về sống tại đây. Và những bức tranh của bà đã ra đời trong khung cảnh êm đềm tĩnh lặng của ngôi làng này.
Bước qua một ngôi nhà gỗ nằm cạnh vịnh biển. Chúng tôi thấy cơ man bao nhiêu là những con cá được xẻ làm khô treo lủng lẳng trước hiên nhà. Những con cá được làm sạch, cắt bỏ đầu chỉ còn lại phần thân cá treo trong hiên nhà. Cái lạnh của vùng đất xa xôi sẽ từ từ làm khô những con cá. Nhìn khuôn mặt lạ lẫm ngạc nhiên của chúng tôi, bác chủ nhà với tay lấy một con khô xé mời chúng tôi ăn thử. Vị cá thật ngon, nó không hề mặn tí nào vì họ không ướp muối, vị thịt của cá rất ngọt và dẻo dẻo thơm thơm. Chúng như tan vào lưỡi chúng tôi một cách nhẹ nhàng quyến rũ. Trước đề nghị muốn mua của chúng tôi, bác chủ nhà không muốn bán vì cá chưa khô hẳn, nhưng chúng tôi nài nỉ mãi ông cũng bán cho mỗi người 1 vài con để làm quà và không quên dặn nhớ nướng lên cho chín rồi hãy ăn nhé...!
LONGYEABEAN- NGÔI LÀNG CUỐI CÙNG CỦA THẾ GIỚI TRÊN VÙNG BẮC CỰC
Từ Tromso, chúng tôi mất khoảng 2h bay đến thị trấn Longyeabean. Ngôi làng nằm ở tọa độ 78 vĩ độ Bắc. Nơi đây được xem là ngôi làng có người dân sinh sống gần Bắc cực nhất, vì trên xa nữa là những vùng đất hoang hầu như không có con người sinh sống. Nếu có nơi nào xa hơn toạ độ này mà vẫn có con người thì cũng chỉ cũng chỉ là nơi ở tạm của một vài nhà nghiên cứu về Bắc cực mà thôi.
Mãi cho đến tận trước những năm 1974, thì để đi đến được nơi đây chỉ có một phương tiện duy nhất là tàu thuỷ. Tuy nhiên tàu chỉ đi được trong giai đoạn từ khoảng tháng 6 cho đến tháng 10. Sau đó là thời gian các vùng biển bị đóng băng. Mọi sự đi lại bị ngưng trệ. Sau 1974 thì sân bay Longyeabean được đưa vào hoạt động.
Ngày nay, quần đảo Svalbard cũng như thị trấn Longyeabean nằm dưới sự quản lý của Nauy. Nhưng với tinh thần của hiệp ước Svalbard thì mọi công dân trên toàn thế giới đều có thể đến đây sinh sống và làm việc. Nghĩa là bất cứ ai cũng có thể đến đây sống mà không cần phải xin phép. Và người ta chỉ được sống chứ không được sinh ra và chết đi tại đây.
Điều này tưởng chừng vô lý nhưng đó là sự thật. Bởi vì do điều kiện nhiệt độ nơi đây luôn thường xuyên lạnh giá. Cho nên khi khai quật những ngôi mộ của những người đã mất cách đây hàng trăm năm, các cơ thể này vẫn còn nguyên vẹn...Cho nên người ta lo sợ các loại vi trùng sẽ theo người chết nằm đó mà đợi ngày tái sinh phát tán. Cho nên ngày nay, khi có một ai bị bệnh quá nặng thì họ sẽ được lên máy bay đưa về đất liền chữa trị. Một mặt do điều kiện y tế trên đảo không thể tốt như ở đất liền và một mặt là đề người bệnh có lỡ chết thì hãy chết ở ...đất liền. Và tương tự như thế, khi có người mang thai thì gần đến ngày sinh nở thì sẽ được sắp xếp về đất liền để sinh nở. Sau vài ba tuần, khi em bé cứng cáp rồi thì sẽ được đưa trở về lại Svalbard...

TRẠI HOANG DÃ BARENZ VÀ CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG NHÀ THÁM HIỂM BẮC CỰC
Chúng tôi đã có một buổi tối vô cùng thú vị ở trại hoang dã Barenz. Bên ánh lửa bập bùng của ngôi nhà gỗ nằm ngoài rìa thị trấn Longyeabean chúng tôi vừa ăn tối vừa nghe cô hướng dẫn viên kể về hành trình tìm ra quần đảo Svalbard. Người Nauy không phải là người đầu tiên khám phá ra quần đảo Svalbard mà nó thuộc về nhà hàng hải người Đan Mạch. Trại hoang dã Barenz, nằm cách thị trấn non chục cây số. Thời điểm cuối tháng tư đã là thời điểm mà mặt trời gần như hiện diện suốt ngày đêm. Ngoài trời vẫn cứ sáng trưng như ban ngày. Cảnh vật cứ rỏ một một, ánh mặt trời vẫn cứ chiếu sáng trên từng ngọn núi.
Cả thị trấn và lẫn vùng ngoại ô Longyeabean là một vùng đất bao la rộng lớn nhưng không hề có bóng dáng của bất kì loài cây nào mọc nơi đây. Và toàn bộ vùng cực Bắc từ vĩ độ này là như thế, đến đây, ta chỉ có thể thấy gần mình là núi và tuyết, ở xa hơn thì cũng chỉ có tuyết và núi. Thế thôi, tuyệt nhiên không hề có một bụi cây nào.

Chúng tôi được kể rằng từ những năm 1551, Wiliem Barenz đã được hoàng gia Đan Mạch tài trợ cho ông thực hiện chuyến hải trình đi lên hướng Bắc châu Âu, nhằm tìm đường sang châu Á, đặc biệt là tìm đường đến Ấn Độ và Trung Quốc để mua bán hương liệu. Sau 2 lần thất bại, ông vẫn không nản chí mà ông lại tiếp tục thực hiện lần thứ ba. Và trong lần này ông cùng với thủy thủ đoàn đã đến được quần đảo Svalbard, nhưng lúc đó đã là tháng 10. Tàu bị mắc kẹt bởi các tảng băng rồi bị vỡ. Mùa đông nơi đây thật khắc nghiệt, để tồn tại Barenz cùng với hơn 16 người đàn ông phải lấy gỗ từ chiếc thuyền vỡ của mình và những thanh gỗ trôi dạt từ Siberi đến để làm một ngôi nhà tạm để ở. Ban đêm họ đốt một đóng lửa giữa nhà, những người đàn ông nằm chen chúc kề bên nhau trong gian nhà chật hẹp tìm hơi ấm để sống sót. Họ đã vượt qua 6 tháng mùa đông một cách diệu kì. Khi băng đã tan Wiliem Barenz đã cùng với những người sống sót đi trên 2 chiếc thuyền nhỏ, họ phải chèo bằng tay để đi về đất liền, trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt và cơ thể kiệt sức...
Nhiều người đã chết, Barenz cũng bị chung số phận, tuy nhiên trước khi chết ông vẫn còn kịp chỉ hướng cho mọi người nên đi tiếp. May thay, những người sống sót đã đến được bờ biển nước Nga. Họ được những người Nga giúp đỡ tiếp sức để họ tiếp tục đi đường bộ về đến Đan Mạch. Nhiều người sửng sốt và kinh ngạc vì không thể tin rằng các thủy thủ còn sống quay trở về...
Con đường đi sang châu Á vẫn không được tìm thấy. Nhưng thông tin về quần đảo được đặt tên Svalbard lan ra rất nhanh. Họ kể rằng đó là vùng đất băng giá lạnh buốt nhưng có vô vàn các loại động vật quý hiếm mà trước nay người châu Âu chưa từng biết đến, đó là gấu trắng Bắc cực, đó là những con hải tượng với lớp da dày và chắc kinh khủng đến mức súng bắn không lủng, chúng có đôi ngà dài và đẹp tựa ngà voi. Rồi nào là những loài hải cẩu và vô số các loài cá voi khổng lồ chen chúc nhau dày đặt đến mức họ có thể đi trên biển bằng cách cứ bước trên đầu chúng mà đi ..
Và loài người đã có dịp để thể hiện lòng tham vô đối của mình. Những làn sóng ào ạt của những thợ săn kéo nhau đến Svalbard. Họ đã giết và săn rất nhiều những chú gấu trắng Bắc cực xinh đẹp. Những chú hải cẩu, hải tượng cùng vô Vàn loài cáo Bắc cực cũng như hàng vạn con cá voi đủ chủng loại bị thảm sát một cách man rợ nhất. Thợ săn đi đến đâu là máu nhuộm đỏ đến đấy, cả vùng biển và đất của Bắc cực đầy tang thương nhuốm máu. Trăm loài khóc than ai oán. Bắc cực vật vả kêu gào thảm thiết đến kiệt quệ...
Ngày nay, việc săn bắt thú không còn buông lỏng như xưa nữa, nhưng có lẽ sẽ còn lâu lắm nếu như không muốn nói là khó mà có thể trả lại môi trường những gì của ngày xưa. Khó mà có thể nhìn thấy được nhiều loài thú chen nhau bơi lội trong các vùng biển Bắc cực như những người xưa từng kể nữa...Có lẽ, thú giờ cũng đã quá sợ con người!
May mắn thay, hành trình ngày đi tàu phá băng vào ngày hôm sau của chúng tôi đủ tuông trào cảm xúc đến vỡ òa. Đó là khi cả đoàn được tận mắt nhìn thấy những chủ nhân thực thụ của vùng Bắc cực này. Chúng tôi đã được tận mắt nhìn thấy những chú hải cẩu lười biếng nằm phơi bụng trên một tảng băng trôi lững lờ. Một đôi hải tượng đang âu yếm nhau với đôi nanh dài như chiếc sừng voi trắng muốt cong vút chĩa lên trời. Và một hình ảnh dễ thương thắm tình mẫu tử của hai mẹ con chú gấu Bắc cực đang săn mồi trên vịnh hẹp đóng băng trắng xoá...
HÀNH TRÌNH TRÃI NGHIỆM XE CHÓ KÉO TẠI BẮC CỰC
Có thể nói, trong suốt chuyến đi Bắc cực thì đây là hành trình Trãi nghiệm đáng giá nhất. Sau buổi ăn sáng, chúng tôi được xe của trại chó đến đón. Đoàn xe băng qua những đèo dốc với những đụn tuyết trắng xoá, tiếng chó sủa inh ỏi chào đón chúng tôi. Bằng những thao tác nhanh nhẹn và chuyên nghiệp. Các cỗ xe đã được bố trí đội hình. Chúng tôi xuất phát.
Trên chiếc xe bằng gỗ, những chú chó giống Husky và Alaska thật khỏe mạnh và hữu dụng. Chúng hăng say kéo những cỗ xe băng băng chạy trong tuyết trắng xoá. Thỉnh thoảng chúng tôi băng qua những con suối gập gềnh quanh co. Chiếc xe như bay trong miền cổ tích. Bầu trời hôm ấy thật xanh trong, những núi tuyết trắng phau đẹp nền nã. Tôi lặng người đắm chìm trong khoảng trắng mênh mang...
Và rồi điểm tập kết cũng đã đến. Chúng tôi dừng lại nghỉ ngơi và ăn trưa. Ngoài thức ăn của những người hướng dẫn viên địa phương chuẩn bị theo kiểu Nauy. Chúng tôi còn được thưởng thức một chiếc bánh chưng nóng ăn kèm với giò lụa. Một cảm giác tuyệt vời không thể gọi thành tên. Giữa chốn thâm sơn cùng cốc nơi tận cùng của Bắc cực, nhưng cảm xúc dâng trào không thể không nhớ đến quê hương, mọi dư vị quê nhà như đã kết quyện trong miếng bánh chưng xanh...

Và giờ đây, trên chuyến bay trở về vùng đất ấm của quê hương. Nhưng trong tôi vẫn là bao ngỗn ngang những nghĩ suy về vùng đất tuy lạnh giá, mà bên trong chứa đựng sự giàu có và trù phú của biển cả. Mong sao lòng tham của con người được chế ngự để họ đủ sức buông những lưỡi hái tử thần, để họ thôi chém giết và săn bắn các loài thú nơi vùng Bắc cực này nữa.
Nhiệt độ trái đất chúng ta đang dần nóng lên. Băng của vùng cực sẽ tan nhanh. Ngôi nhà chung của cả nhân loại đang bị đe dọa. Vì vậy, chúng ta hãy làm một cái gì đó trước khi quá muộn. Đôi khi chỉ đơn giản là cùng góp sức trồng cây, giữ rừng. Hay chỉ là ngừng xả những rác thảy plastic vào các dòng sông và những đại dương của chúng ta. Hãy thôi ngược đãi mẹ thiên nhiên, hãy thôi tàn ác với muôn loài như chúng ta đã từng.

TRẦN VĂN TRƯỜNG